Khách du lịch nội địa ngày càng tăng

Nói về du lịch của một nước, người ta thường chú trọng lượng khách du lịch nước ngoài đến hàng năm để đánh giá quy mô, tỷ lệ tăng trưởng cũng như hướng phát triển hơn là nói về khách du lịch nội địa mặc dù lượng khách này góp phần không nhỏ vào doanh thu của ngành du lịch. Ở Việt Nam, trong nhiều năm qua, lượng khách du lịch nội địa luôn cao hơn lượng khách du lịch quốc tế nhiều lần, nhưng có một thực tế là mọi kỳ vọng, mọi dự án đầu tư và chiến lược phát triển ngành du lịch đều nhắm đến đối tượng khách quốc tế. Nhiều doanh nghiệp du lịch cho rằng “đầu tư vào khách du lịch quốc tế hiệu quả cao hơn nhiều lần khách du lịch nội địa” hoặc “nguồn thu từ một khách du lịch nước ngoài bằng 5 đến 6 lần một khách nội địa”. Điều dễ thấy nhất là cùng một phòng trong khách sạn, giá cho khách nước ngoài thuê đắt gấp 3 lần so với khách nội địa. Đó là chưa kể khách nước ngoài chi tiêu nhiều và sử dụng nhiều dịch vụ khác. Vậy nên vị thế của khách du lịch nội địa và việc đầu tư vào đối tượng này chưa thực sự được chú trọng. Năm 1994, tổng doanh thu của ngành du lịch Việt Nam đạt khoảng 4.000 tỷ đồng và năm 1995, tổng doanh thu khoảng 5.500 tỷ đồng. Trong đó có sự đóng góp quan trọng từ du lịch nội địa. Nếu như lượng khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng từ 30% đến 40% mỗi năm, thì lượng khách nội địa cũng có mức tăng tương ứng. Nếu năm 1989 có khoảng 187.575 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì có 750.000 người Việt Nam đi du lịch trong nước. Tương tự, năm 1994 đón 1.018.000 khách quốc tế và 3,5 triệu khách nội địa. Sang năm 1995, số khách quốc tế đạt khoảng 1,3 triệu thì khách nội địa khoảng 4,5 triệu.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, lượng khách quốc tế đến năm 1994 khoảng 638.000 lượt, năm 1995 khoảng 815.900 lượt – tăng 27,8%/năm. Lượng khách nội địa đạt 750.000 lượt năm 1994 và 940.000 năm 1995, tăng 25,3%. Trên địa bàn thành phố hiện có 80 đơn vị nhà nước và tư nhân chuyên kinh doanh du lịch nội địa và 22 chi nhánh và văn phòng đại diện của công ty du lịch các tỉnh thành khác. Riêng trong năm 1995, các doanh nghiệp chú ý khai thác mảng kinh doanh lữ hành nội địa nhưng chưa khởi sắc, nhất là ở các doanh nghiệp quốc doanh.
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 1995 có 2,6 triệu lượt khách đến, trong đó có 250.000 khách quốc tế và 2.350 khách nội địa với tổng doanh thu đạt 441 tỷ đồng. Dự tính năm 2000 có 6 triệu khách du lịch đến Bà Rịa – Vũng Tàu, trong đó có 1 triệu khách quốc tế và 5 triệu khách nội địa…
Tiềm năng của thị trường khách du lịch nội địa là rất lớn theo đà kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của người dân cao hơn và nhu cầu đi du lịch trong và ngoài nước sẽ nhiều hơn. Được biết, hiện nay số ngày lưu trú tại khách sạn của khách du lịch nội địa từ 4 đến 5 ngày và mức chi tiêu mỗi ngày là 60.000đ/người. Khách du lịch quốc tế cũng lưu trú với số ngày tương tự nhưng mức chi tiêu khoảng 80 USD/người/ngày.
Với chủ trương đưa du lịch thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung của đất nước, chính phủ đã thông qua quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả nước trong đó có chú trọng đầu tư và phát triển thị trường du lịch nội địa. Ông Bùi Xuân Nhật – tổng cục phó tổng cục du lịch – cho biết:
Ngành du lịch đang huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch nhất là xây dựng khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí và thể thao, để phấn đấu đến năm 2000 có thể đón từ 3 đến 4 triệu khách quốc tế, 11 triệu khách nội địa; năm 2010, đón 8 triệu khách quốc tế và 25 triệu khách nội địa.
Đỗ Ngọc – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Chưa có ai bảo vệ người tiêu dùng khỏi rau quả độc hại

Khoảng 200 loại thuốc bảo vệ thực vật xuất hiện tràn lan đang là thảm họa đối với sức khỏe người dân. Thuốc được bán “kèm” với thuốc lá , hoặc được chưng bày nhan nhản trên một số lề đường, và khoảng 20 cửa hàng. Trong đó có cả thuốc khai hoang, DDT, sulfat đồng, thuốc xịt rầy đủ hiệu… Các loại thuốc độc hại này đã từng “mỉm cười” với những kẻ “không còn muốn sống”. Chúng còn đang “cận kề” tận trong bếp ăn của mỗi gia đình…
Từ những lời báo động…
Trong phiên họp tổ chức đầu tháng 12 năm ngoái do ông Trần Đình Thọ – phó giám đốc Sở Thương mại chủ trì, các ông bà: Phạm Thuyết – phó giám đốc Sở nông nghiệp, Phan Văn Phải – Trưởng Chi cục Bảo vệ Thực vật, bà Nguyễn Thị Phùng – Trưởng trạm kiểm nghiệm đo lường thuộc Sở Thương mại… đã gióng lên lời báo động về tình trạng nói trên. Theo Chi cục Bảo vệ Thực vật, riêng trong băm 1992 có trên 3.000 người – do vô tình hoặc cố ý, bị ngộ độc bởi các loại thuốc bảo vệ thực vật, phải đến bệnh viện. Đáng lo hơn là hàng triệu người khác đã – đang và tiếp tục ăn phải các loại rau quả đã được nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá liều để giữ cho rau quả xanh tốt, để được đầy “túi tiền” của mình.
Một số cuộc thử nghiệm được Chi cục Bảo vệ Thực vật thực hiện đã cho thấy, nhiều loại nông sản, trái cây bán trên thị trường chứa hàm lượng lớn thuốc trừ sâu, sát trùng, rất có hại cho sức khỏe của mỗi người tiêu dùng. Từ một vài cuộc kiểm tra lẻ tẻ khác, Chi cục Bảo vệ Thực vật còn phát hiện thêm rằng, người ta đã dùng DDT và thuốc khai hoang xịt trên tỏi và nho ở một số vùng trồng hai loại trái cây này. Ở Bình Chánh, người ta xịt DDT trên rau bồ ngót. Có người dùng sulfat đồng xịt cho cánh đồng nho, hành tây, tỏi… vào mỗi buổi sáng để chống sương muối và nhờ vậy nho sắp bị úng cũng trở thành tươi cứng lại ngay… Còn theo bà Nguyễn Thị Phùng, người ta xịt nhiều thuốc trừ sâu trên cà tím, bông cải…đến nỗi lúc mới mua về, người tinh ý có thể nghe “sực mùi thuốc”.
“Nhiều loại rau quả được bán trên thị trường hiện nay hết sức độc hại đối với sức khỏe người tiêu dùng”, đó là kết luận mà chúng tôi ghi nhận được từ cuộc họp nói trên. Có lẽ biết được điều đó, nên có người trồng rau để ăn trong nhà thì không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nhưng cứ sử dụng bừa trên những luống rau hái đưa ra chợ bán. Vì sao nông dân lại có thái độ đó? Chủ nhiệm hợp tác xã mua bán một huyện ngoại thành (xin được giấu tên) xác nhận, chính bà đã đề nghị một số nông dân trồng rau sạch – không dùng thuốc trừ sâu, thuốc xịt rầy… và đã bị họ bác bỏ. Những nông dân này còn hỏi lại bà chủ nhiệm rằng “để cho rau quả xanh tốt, dễ bán, tại sao lại không xài thuốc?”. Còn mua thuốc thì quá dễ. Họ sử dụng cả thuốc thuốc do Trung Quốc sản xuất, giá rẻ so với loại thuốc do Pháp sản xuất, nhờ vậy mà hàng bán được lời nhiều. Có người xịt thuốc trên hoa quả chỉ trước lúc thu hoạch vài tiếng đồng hồ, trong khi thời hạn được phép là 15 ngày.
Đến một thị trường còn quá ít rau quả sạch
Mặc cho những lời báo động, thời gian gần đây liên tục xảy ra một số vụ ngộ độc rau quả có và không có đăng trên các báo. Để tự bảo vệ sức khoẻ của chính mình, một số hộ gia đình đã tự trồng lấy rau xanh. Ở nhà số 232/3 đường Võ Thị Sáu, quận 3, đại tá hồi hưu Đỗ Minh Đỉnh cho biết, khoảnh đất trước nhà ông luôn luôn có cải xanh – “rau sạch tuyệt đối”, vì ông chỉ tưới một ít tro mà thôi. Và rau cũng chỉ đủ xài trong nhà. Ông còn có giàn mướp xanh trái, chia cho cả xóm cùng ăn.
Nhưng còn hàng vạn hộ khác không có đất để trồng rau? Ở một số hàng quán, người ta đã nhịn, không chịu ăn rau quả. Có người không nhịn nổi, thì chọn mua một số mặt hàng được giới thiệu là “rau sạch”, được bày bán tại các siêu thị và chợ. Kỹ sư sinh học Đỗ Quốc Hùng – công ty giống cây trồng (gino) cho biết: “chúng tôi hiện có các loại dưa lê: giá 15.000 – 17.000đ/kg, cà sơri (cà dài 13.000đ/kg, cà tròn 10.000đ/kg), củ cải đỏ: 18.000đ/kg, bắp cải tím 15.000đ/kg, đậu Hà Lan: 12.000đ/kg… được trồng trong nhà lưới ở sông Bé và Đà Lạt. Đây là công trình nghiên cứu từ hai năm qua, nhưng chỉ mới có sản phẩm nhiều lên hồi đầu năm nay. Chúng tôi trồng các loại rau quả này ở trong phòng bịt kín bằng một loại plastic mỏng nhập từ Đài Loan, để ngăn không cho côn trùng xâm nhập và điều hòa được thời tiết, không để xảy ra tình trạng nóng quá hoặc lạnh quá. Nhờ vậy rau quả ít bị phá hoại, hư hỏng. Và chúng tôi chỉ phải sử dụng chút ít thuốc trừ sâu, đồng thời tăng cường sử dụng phân vi sinh tổng hợp để giảm độc tố cho rau quả trồng”.
Hiện nay, số rau quả của Gino được dự trữ trong phòng lạnh và phân phối mỗi ngày tại số 58 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm quận 1, lượng bán ra cho các siêu thị, nhà hàng, khách sạn ở thành phố lên tới nửa tấn /ngày. Song số lượng này chưa phải là nhiều so với cư dân thành phố và đó cũng chỉ là một ít sản phẩm lạ được nhập giống từ Nhật, Đài Loan và Hàn Quốc. Còn những mặt hàng rau quả “đặc thù” Việt Nam được đảm bảo “sạch” như sản phẩm của Gino thì hiện nay hoàn toàn chưa có trên thị trường. Có lẽ nào ngành nông nghiệp và ngành bảo vệ thực vật bó tay trước vấn nạn này, bỏ mặc người tiêu dùng trước thảm họa thuốc xịt rầy, thuốc trừ sâu…?
Bích Vi – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

10 năm nữa, một nửa dân số thế giới sẽ sống ở thành thị

“Sự tăng trưởng thành phố sẽ trở thành ảnh hưởng lớn nhất và độc nhất trong vấn đề phát triển vào thế kỷ XXI, kéo theo sự tăng vọt dân số ở các nước đang phát triển”. Đó là nhận xét trong báo cáo 1996 của tổ chức dân số liên hiệp quốc mà tờ The Straits Times số ra 29/5 đã đăng tải.
Trong vòng mười năm tới, hơn một nửa dân số thế giới sẽ sống tại các thành phố, và việc tăng trưởng dân số thành thị sẽ chỉ xảy ra ở các nước đang phát triển. Hiện nay, 2/3 số dân thành thị của thế giới là thuộc về các nước đang phát triển. Tổ chức dân số liên hiệp quốc dự đoán, đến năm 2015, con số này sẽ là 3/4 và năm 2025 là 4/5. “Phần lớn sự tăng trưởng này xảy ra tại các nước nghèo nhất trên thế giới, và trong số dân cư mới di dời đến thành thị, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, sẽ trở thành những người nghèo nhất trên thế giới”.
Hiện nay, châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật có tỷ lệ sinh sản hàng năm thấp nhất: 0,1%; 0,9% và 0,2%. Châu Đại Dương, Mỹ La Tinh và châu Á ở mức trung bình: 1,5%; 1,4% và 1,7% hàng năm. Châu Phi đạt kỷ lục cao nhất toàn cầu với 2,7%. Có khoảng 12 nước thuộc châu lục này đã tăng dân số gấp đôi chỉ trong vòng một thế hệ!
Năm 2025, Trung Quốc sẽ vẫn là quốc gia đông dân nhất thế giới với dân số vào khoảng 1,5 tỷ người và tỷ lệ sinh trưởng hàng năm 0,1%. Ấn Độ đứng thứ nhì với 1,3 tỷ người và tỷ lệ 1,8%. Trong khi đó, liên hiệp quốc dự đoán đến năm 2015, dân số thế giới sẽ tăng trong khoảng từ 7,1 tỷ đến 7,83 tỷ. Năm 2050, con số này sẽ dao động từ 7,9 tỷ đến 11,9 tỷ.
Năm 1950, thế giới chỉ có 83 thành phố số dân hơn 1 triệu người (34 thành phố thuộc các nước đang phát triển). Nhưng hiện nay số thành phố hơn một triệu dân đã là 280 và sẽ tăng gấp đôi vào năm 2015. Tất cả các thành phố mới với hơn một tiệu dân và 11/15 thành phố lớn nhất thế giới là ở các quốc gia đang phát triển. Do vậy, tổ chức dân số liên hiệp quốc lo ngại rằng tương lai của thành thị gắn liền với nhiều hiểm nguy cho môi trường, tài nguyên thiên nhiên và xã hội. Tuy nhiên, các thành phố cung cấp nguồn vốn, lực lượng lao động và thị trường tiêu thụ ở mọi mức độ về hoạt động kinh tế cho giới chủ sẽ có từ 60% đến 80% GNP (tổng sản phẩm quốc gia) là của các nước đang phát triển.
Mối cản trở lớn nhất cho tương lai của thành thị là việc điều hòa mức sống xã hội. Dù cho thành phố đó được coi là đạt mức tăng trưởng kinh tế căn bản của thành thị, thì số người nghèo khổ tại thành thị vẫn là vấn đề nhức nhối, bởi hiện nay, trên thế giới vẫn có tới 600 triệu người ở các khu vực đô thị không thể đạt được những nhu cầu tối thiểu về nước, nhà ở và sức khỏe.
Việt Nam – Các nước
Bộ trưởng bộ nông – ngư nghiệp và lương thực Pháp thăm Việt Nam
Bộ trưởng bộ nông – ngư nghiệp và lương thực Pháp, ông Philipe Vasseur đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam từ 24 đến 29/5. Ông P.Vasseur đã gặp phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cùng một số lãnh đạo của nhà nước Việt Nam, các bộ thương mại, thủy sản,,, ký kết biên bản ghi nhớ với bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (đây là biên bản ghi nhớ thứ ba kể từ năm 1989 được ký kết giữa hai bên) và thăm một số cơ sở sản xuất trong lĩnh vực sản xuất và chế biến lương thực.
Sáng 28/5 tại thành phố Hồ Chí Minh, chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật ông P.Vasseur, trao đổi ý kiến về mối quan hệ hợp tác giữa thành phố Hồ Chí Minh với các ngành, địa phương của Pháp, đặc biệt trên lĩnh vực nông nghiệp và đào tạo cán bộ.
Nhà máy xi măng thứ ba liên doanh với Đài Loan sẽ được xây dựng tại Việt Nam
Với số vốn 240 triệu USD, liên doanh đang được bộ kế hoạch và đầu tư xem xét cấp phép thành lập ở Quảng Ninh. Đây là liên doanh giữa công ty xây dựng Quảng Ninh và công ty Globe (Đài Loan). Phía Việt Nam góp 30% vốn. Công suất dự kiến của nhà máy là 1 triệu tấn/ năm và cho ra sản phẩm vào năm 2000.
Được biết, hai liên doanh trước là nhà máy xi măng Trảng Kênh (Hải Phòng) công suất 1,3 triệu tấn, cuối năm 1996 sẽ đi vào sản xuất và một nhà máy tại Kim Môn (Hải Hưng) đã khởi công xây dựng hồi tháng 3/1996 với công suất dự kiến 1 triệu tấn/năm.
Phóng Viên -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Gieo mầm thể thao cho tuổi thơ

8h sáng ngày 25/5/1996 những chân chạy tuổi thơ đã bước vào cuộc thi tài hấp dẫn và hào hứng của mình: giải việt dã tiếp sức truyền thống lứa tuổi mẫu giáo do phòng giáo dục, quận Đoàn và trung tâm thể dục thể thao quận 3 phối hợp tổ chức. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử điền kinh của thành phố một cuộc thi đấu ở lứa tuổi mầm non được tổ chức độc lập với quy mô cấp quận và thu hút được đông đảo vận động viên nhí như thế: 380 vận động viên của 19 trong số 20 trường mẫu giáo trên địa bàn quận 3 tham dự. Sức hút từ một giải mới tổ chức lần đầu như thế thật đáng kinh ngạc. Cách đây bốn năm, việt đã tiếp sức lứa tuổi mẫu giáo cũng đã được quận 3 và nhà thiếu nhi thành phố phối hợp tổ chức với tính cách thử nghiệm nhưng chưa thật sự hấp dẫn. Nay thì, có tận mắt chứng kiến những đôi chân bé thơ hồn nhiên tranh tài trên đường chạy mới có thể cảm nhận được hết những ấn tượng mạnh mẽ toát lên từ cuộc thi trong sáng mà quyết thắng này.
“Gieo tinh thần thể thao vào các cháu từ thuở còn thơ…” – ý tưởng này của anh Hoàng Đặng Nam – trưởng phòng văn hóa – thông tin quận 3 dường như chẳng phải chỉ mới xuất hiện trong anh. Không chỉ đi đầu trong việc thử nghiệm điền kinh cho tuổi mầm non, từ nhiều năm qua, ngành thể dục thể thao quận 3 đã dành một phần hồ bơi Kỳ Đồng phục vụ miễn phí cho các cháu mẫu giáo trong quận. Thường xuyên, vẫn có từ 4 đến 6 trường mẫu giáo đưa các cháu đến Kỳ Đồng tập bơi, tập vận động và làm quen với nước – một hoạt động cũng đã từ nhiều năm được đưa vào “chương trình học tập” của một số trường mẫu giáo ở quận 3. Có thể nói không ngần ngại: quận 3 là nơi đi tiên phong trong việc đưa thể thao đến lứa tuổi mầm non.
Tuy nhiên, ý tưởng gieo mầm thể thao vào tuổi mầm non gần đây đã không còn là điều riêng có của quận 3. Những người làm thể thao ở quận 3 đã không còn là kẻ độc hành cô đơn. Dạy võ (taekwondo) cho lứa tuổi nhi đồng đã đi khỏi bước thử nghiệm và có sức sống mạnh mẽ ở nhà thiếu nhi thành phố. Hiệu quả về việc giáo dục thể chất cho các cháu đã được chứng minh một cách hiển nhiên bằng thực tế sau nhiều năm huấn luyện của các võ sư ở đây.
Và, không chỉ bấy nhiêu, một hai năm trở lại đây thể thao cho tuổi mẫu giáo dường như đang được nhiều ngành nhiều giới quan tâm. Bóng đá nhi đồng chỉ mới xuất hiện năm ngoái nhưng đã rầm rộ với các cuộc thi tài từ cấp cơ sở, đến các tỉnh, thành phố rồi nay là cúp bóng đá nhi đồng toàn quốc lần I đang được chuẩn bị – cũng chia bảng đấu loại theo từng khu vực sôi động, hào hứng chẳng kém bóng đá của người lớn. Những ngày đầu tháng 6 sắp tới, bảng 6 của cúp bóng đá nhi đồng toàn quốc gồm một số tỉnh phía Nam do thành phố Hồ Chí Minh làm bảng trưởng sẽ khởi tranh tại câu lạc bộ Lãnh Binh Thăng (thành phố Hồ Chí Minh). Nếu một lần thử đến xem các cầu thủ mẫu giáo tranh tài chắc chắn bạn không thể không bị hấp dẫn bởi tính hồn nhiên và sôi động của trận đấu và có những ấn tượng mạnh mẽ về sức sống của tuổi thơ và thể thao. Cũng sắp tới đây, ngày 1/6, lần đầu tiên liên đoàn thể dục thành phố sẽ tổ chức thử nghiệm một giải aerobic dành cho tuổi mẫu giáo được bảy đội của các quận huyện tham gia. Một nét hấp dẫn mới của thể dục.
Đứng từ cái mốc của ngày quốc tế thiếu nhi 1996 nhìn lại cả hai hướng từ quá khứ đến tương lai, rõ ràng những người lớn làm công tác thể thao và giáo dục đã và đang chú tâm hơn đến vấn đề đưa thể thao vào tuổi mẫu giáo. Hy vọng rằng sắp tới đây các cháu ở lứa tuổi này dễ dàng được làm quen và xuất hiện thường xuyên hơn nữa trong các hoạt động thể dục thể thao từ các môn bóng đến điền kinh, bơi lội, thể dục… và các trường mẫu giáo không chỉ có các cô nuôi dạy trẻ mà còn có thêm cả giáo viên thể dục. Việc giáo dục thể chất hy vọng sẽ được “phổ cập” đến tuổi mầm non. Tất cả chờ đợi thêm một cái bắt tay mới của giáo dục và thể dục thể thao bởi chúng ta đã đi được những bước mở đường.
Di Nhiên – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Phụ nữ hút thuốc lá cũng là một tệ nạn

Vào giữa năm 1995, một công trình khảo sát về tình trạng hút thuốc lá tại Việt Nam đã được phối hợp thực hiện giữa viện khoa học xã hội (Hà Nội), trung tâm thông tin và giáo dục sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh và chương trình “sức khỏe là vàng” của đại học San Francisco (Mỹ). nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn theo mẫu ngẫu nhiên ở các nơi có số lượng thuốc lá tiêu thụ nhiều nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Riêng tại thành phố Hồ Chí minh, số người được hỏi là 1.000, trong đó có 557 phụ nữ.
Kết quả công bố vào đầu năm 1996 cho thấy số phụ nữ hút thuốc lá ở nội thành là 5,3%, còn ở ngoại thành chiếm đến 7,9%. Đa số người hút thuốc đều trên 50 tuổi, có hoàn cảnh gia đình không may mắn, họ hút không nhiều nhưng không bỏ được.
Cuộc khảo sát này cũng đã phỏng vấn những phụ nữ không hút thuốc lá, kết quả cho thấy:
Về mặt văn hóa: các chị em cho rằng phụ nữ hút thuốc lá không phù hợp với tập quán Việt Nam, cầm điếu thuốc trên tay thấy “khó coi” và rất dễ bị dư luận đánh giá thấp.
Về kinh tế: đa số phụ nữ cho rằng hút thuốc lá đơn giản là tốn tiền. có người nói làm không đủ ăn, lấy tiền đâu mà hút.
Về sức khỏe: hầu hết đều biết hút thuốc lá có hại cho sức khỏe. Phần lớn số người được phỏng vấn đều không chịu nổi mùi thuốc lá. Có người cho rằng hút thuốc lá sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con cái và người xung quanh.
Nói chung, đa số phụ nữ ở thành phố Hồ Chí Minh, qua số người được phỏng vấn, đều hiểu biết tác hại của thuốc lá có khi hơn cả nam giới, nhưng họ không có khả năng ngăn cản chồng con hút thuốc lá. Có hai lý do: thứ nhất vì phần lớn nam giới ghiền thuốc lá ở tuổi trên 30, là những người có chỗ đứng trong xã hội hoặc trong gia đình, người phụ nữ nào chịu lệ thuộc về kinh tế sẽ rất khó cản chồng con hút thuốc lá. Thứ hai là không ít người cho rằng đàn ông hút thuốc lá là chuyện bình thường, một đặc tính của nam giới. Điều này có thể kiểm chứng qua một số liệu khác cũng trong cuộc khảo sát này là gần một nửa số đàn ông hút thuốc lá không hề được vợ con khuyên nhủ bỏ hút (nếu có thì cũng chỉ khuyên giảm bớt thuốc lá mà thôi). Và số các đấng mày râu đoạn tuyệt với thuốc lá phần lớn không do phản ứng của phụ nữ.
Thế nên, để tệ nạn này ngày càng giảm bớt, cần thiết có một chiến lược quốc gia phòng chống thuốc lá được sự hưởng ứng của các tầng lớp xã hội. Trong bối cảnh đó thì người phụ nữ mới có thể bớt dần việc đốt những điếu thuốc… độc và mới gây được sức ép chồng con bỏ dần thuốc lá.
Chính phủ sẽ xem xét bộ luật hôn nhân – gia đình (sửa đổi)
Ngày 31/5 và 1/6/1996, chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 5/1996 để nghe báo cáo và cho ý kiến về tình hình thực hiện các nghị định 36/CP và 87/CP, tình hình phát triển kinh tế – xã hội và thu chi ngân sách nhà nước 5 tháng đầu năm. Cuộc họp cũng sẽ xem xét bộ luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi) do bộ tư pháp trình bày và đề án sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học do bộ khoa học – công nghệ – môi trường báo cáo.
Phường 2 quận 10 (thành phố Hồ Chí minh): tệ nạn xã hội vẫn còn trầm trọng
Khu phố 1 (xóm Cây Điệp) thuộc phường 2 quận 10 cho đến nay vẫn còn 17 hộ lén lút chứa chấp mại dâm, và toàn phường vẫn còn 9 hộ kinh doanh karaoke trái phép. Ông Nguyễn Văn Ba – chủ tịch ủy ban nhân dân phường 2 – cho biết như trên sau phiên tòa lưu động của tòa án nhân dân quận 10 xét xử sơ thẩm công khai hai vụ án hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn Long và Trần Kim Phượng hôm 23/5/1996. Long đã bị tuyên án ba năm tù giam, phạt tiền 2.500.000đ, truy thu số tiền bất chính 2.635.000đ và tịch thu sung công căn nhà 393/19 Lê Hồng Phong là nơi Long cho gái mại dâm thuê phòng để hành nghề từ trước năm 1994. Bị cáo Phượng thì bị phạt ba tháng tù, nộp phạt 16.320.000đ và tịch thu toàn bộ phương tiện kinh doanh karaoke trái phép. Trước đây, Phượng bị kiểm tra, cảnh cáo, phạt hành chính đến bốn lần, nhưng vẫn tái phạm. Hành vi phạm pháp kéo dài của Phượng và Long đều diễn ra trên địa bàn phường 2.
Phóng Viên – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Lao động nữ và việc làm “ngành điện tử dân dụng có khả năng thu hút nhiều lao động trong tương lai”

Theo dự báo của sở lao động thương binh – xã hội thành phố: “từ đây đến năm 2000, ngành điện tử sẽ thu hút được khoảng 7% số lao động được giải quyết việc làm ở thành phố”. Thông tin này cho thấy điện tử dân dụng sẽ là ngành có triển vọng phát triển ở thành phố Hồ Chí Minh.
Sản xuất co lại…
Hiện tại, tình hình tuyển dụng lao động ở các đơn vị sản xuất – lắp ráp mặt hàng điện tử dân dụng hiện nay đang ở mức độ rất hạn chế. Thậm chí trong thời gian qua, một số nơi đã lâm vào tình trạng sản xuất cầm chừng như: xí nghiệp điện tử Gò Vấp, công ty Sagel, Viettronic Thủ Đức… Theo thống kế của cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh: “tháng 5/1995 ngành sản xuất điện tử giảm 9%. Tháng 7/1995 ngưng sản xuất hai mặt hàng radio cassette và video cassette, đồng thời lượng sản xuất tivi màu giảm 5.528 cái. Tháng 9/1995 sụt giảm thêm 3% vì sản phẩm tiêu thụ chậm do thuế nhập khẩu làm đội giá thành. Đầu năm 1996 lại giảm 5,6%. Tháng 4/1996 sản xuất radio , tivi giảm 1%. Trong khi tình hình sản xuất đang gặp khó khăn thì 7.000 tivi lại được nhập vào thị trường thành phố và càng đẩy các đơn vị sản xuất vào thế khó khăn”. Một chuyên gia của ngành đã nói về nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như sau: “cả nước hiện có khoảng 140 đơn vị sản xuất và lắp ráp điện tử. Sự tăng trưởng theo kiểu tự phát đến mức chóng mặt này đã đưa tổng công suất của ngành điện tử dân dụng gấp từ 5 – 10 lần nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong nước. Mặt khác, do thị trường xuất khẩu còn hạn chế đưa đến tình trạng đình đốn sản xuất. Trong khi nội lực còn yếu, các đơn vị trong nước còn phải đối đầu với sự thâm nhập của các công ty xuyên lục địa hàng đầu thế giới. Với thế mạnh về: vốn, trình độ kỹ thuật cao, hệ thống tiếp thị giàu kinh nghiệm… họ đã từng bước chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng hàng điện tử ở Việt Nam.
Ngay cả hoạt động gia công cho các công ty điện tử nước ngoài có thị phần lớn trên thị trường thế giới cũng gặp khó khăn vì sự cạnh tranh dữ dội về giá gia công. Trong khi lương công nhân ở Việt Nam vào khoảng 100 USD/tháng thì ở Miến Điện chỉ khoảng từ 25USD – 30USD. Sự chênh lệch này khiến gia công hàng điện tử ở Việt Nam không còn là điều hấp dẫn đối với các công ty nước ngoài. Tất cả những điều này đã dẫn đến nhiều đơn vị trong nước chỉ còn hoạt động 1/3 thời gian trong năm”.
Việc ít: cửa tuyển dụng hẹp, nhưng…
Đến Viettronic Tân Bình – một đơn vị khá mạnh trong ngành điện tử thành phố, anh Lê Văn Chính – trợ lý giám đốc cho biết: “hiện nay khả năng thu hút lao động của chúng tôi là rất ít trong khi nhu cầu tìm việc lại rất nhiều. Có những đợt chúng tôi chỉ tuyển 10 lao động phổ thông để đào tạo nghề thì có đến 200 đơn nộp vào để tham dự thi tuyển. Tuy nhiên, hàng ngũ kỹ sư thì lại thiếu trầm trọng dù mức lương cho kỹ sư mới tốt nghiệp là 1,5 triệu đồng/ tháng. Mức lương này không thể đương cự với khoản lương mà các công ty nước ngoài đưa ra là 250USD/tháng”. Khi chúng tôi đặt câu hỏi: “vì sao không mở rộng các mặt hàng như màn hình máy vi tính khi khả năng của các đơn vị sản xuất là có thể?”. Câu trả lời là: “thiếu vốn để đầu tư dây chuyền thiết bị lắp ráp”. Ngay cả con người cũng là một vấn đề. Một chuyên gia trong công việc tuyển dụng ở một công ty điện tử cho biết: “chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật ngành điện tử hiện nay rất thấp. Đa số các em được các nơi dạy theo kiểu sửa chữa dịch vụ, dò tìm các pan hư hỏng là chính. Cách đào tạo này không phù hợp với công nghệ sản xuất – lắp ráp điện tử”.
Trong những dự án đầu tư vào các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, chúng tôi thấy xuất hiện khá nhiều những dự án về sản xuất linh kiện điện tử, lắp ráp sản phẩm điện tử. Đồng thời trong định hướng xuất nhập khẩu của thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 trở đi, các sản phẩm điện tử nằm trong danh mục các sản phẩm công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao xuất sang thị trường Asean, các quốc gia SNG, châu Phi… Đây là một hướng ra cho ngành điện tử dân dụng. Dù vậy, để tránh tình trạng đình đốn như vừa qua, cần thiết phải có quy hoạch lại việc tổ chức sản xuất để tạo được thế mạnh cho thị trường trong cũng như ngoài nước. Có như vậy mới có thể thực hiện được dự báo: sẽ hút được nhiều lao động vào ngành điện tử dân dụng.
Hoàng Vũ -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Hài hòa, tự tin trên nền vải Việt Nam

Đã từ lâu ngành dệt – may Việt Nam đứng trước một băn khoăn: thơ Việt Nam lành nghề, của vóc Việt Nam phong phú… vậy mà ngành may Việt Nam vẫn phải “sống nhờ” sự gia công cho nước ngoài với tiền công rẻ mạt. Năm 1995 có thể nói là năm “chuyển biến” trước băn khoăn đó với sự ra đời của các trung tâm thời trang, sự xuất hiện ngày một nhiều các trang thời trang trên báo chí và các chương trình biểu diễn thời trang. Một số hoạt động và mẫu mã thời trang Việt Nam đã có dịp tham dự quốc tế. Các chuyến “công cán thời trang” này đã thúc đẩy sự ra đời của một trung tâm thiết kế, thể nghiệm, giới thiệu tiêu thụ sản phẩm dệt – may: phân viện mẫu thời trang (fashion design institute – FADIN) đặt tại 41 Bến Chương Dương, khai trương ngày 28/5/1996. Phòng trưng bày sản phẩm tại Fadin được thiết kế khá độc đáo với các mannequin của họa sĩ Minh Hạnh. Ngay tại đây có một phân xưởng may mẫu có quy trình “trọn gói” khá hiện đại, cho phép khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm về phần kỹ thuật được thực hiện trên sản phẩm. Trong lễ ra mắt, hơn 200 mẫu y phục người lớn và trẻ em đã được thực hiện. Nhiều đại diện ngành dệt đã rất ngạc nhiên, khi thấy sản phẩm của mình được kết hợp khéo léo với thổ cẩm và các mặt hàng của các xí nghiệp bạn.
Tối 28/5 trong buổi trình diễn tại nhà hát Hòa Bình, với sự hướng dẫn chương trình của nghệ sĩ Thanh Bạch và dàn dựng của đạo diễn Đoàn Khoa, các mẫu thời trang mới đã được gần 2.000 khán giả nồng nhiệt đón nhận. Phần trình bày các kiểu áo veste ngay từ đầu đã tạo được sự thu hút, không gây cảm giác khô cứng, với những màu sáng, mới mẻ trong cách pha màu. Các hàng cúc áo trở thành những kiểu trang trí tạo nét duyên dáng riêng. Một vài kiểu tạo viền mềm mại mang dáng dấp Á Đông. Chất liệu thổ cẩm được kết hợp rất khéo trên nền vải của Dệt Phong Phú không chỉ tạo nên sự bay bổng về màu sắc, gây được ấn tượng biểu diễn trên sân khấu, mà còn tạo được cả sự hòa sắc nhịp nhàng nếu mẫu mã phù hợp. Chính điều đó tạo nên sự thành công trong phần trình diễn mẫu thời trang jean và áo dài.
Bằng những mẫu vải ca – rô các loại của Dệt Thành Công, dưới sự thiết kế khá “nghịch ngợm” kết hợp với vải jean Phong Phú đã tạo thành các loại áo gilet nam, nữ đa dạng. Yếu tố lịch sự khá rõ nét và vượt trội so với một số cuộc trình diễn có thời trang nam giới gần đây.
Phần trình diễn trên nền vải bố cũng khá đặc sắc. Sự thô ráp, kết hợp với các loại áo len, áo móc bỗng trở nên hài hòa và nền nã, yểu điệu với chiếc nón bố, xô, gai và chiếc giỏ xách tay bằng cói – loại giỏ đang được các thiếu nữ Việt Nam ưa chuộng.
Trên đường tìm kiếm để làm phong phú hơn cho thời trang với nền lụa tơ tằm, nữ họa sĩ Minh Hạnh đã đưa ra những chiếc đầm mới, Vẫn là những mẫu khá đơn giản, nhưng những tấm khăn tơ màu chỏi hoặc nổi hơn làm cho chiếc đầm tơ tằm mong manh vừa sang trọng, vừa nổi bật và rất phương Đông.
Rực rỡ và vui mắt là phần thời trang cũng tạo được cảm xúc đẹp nơi người xem: màn áo dài tơ tằm – thổ cẩm lung linh dưới ánh nến của ngày hội thả đèn trên song của miền đất Nam Bộ; màn múa của phần trình diễn thời trang cho cải xoa Việt Nam; bài áo lụa Hà Đông trong phần trình diễn thời trang tơ tằm… Đây là thay đổi đáng kể của các đạo diễn sân khấu thời trang xưa nay chỉ quen dùng nhạc ngoại quốc để tạo nhịp đi cho người mẫu.
Nữ họa sĩ Minh Hạnh, trưởng phân viện tại thành phố cho biết, sau khi ra mắt tại thành phố Hồ Chí Minh, chị sẽ chuẩn bị chương trình tại Hà Nội. Sau này, ngoài phần thiết kế mẫu trên nền vải Việt Nam, Fadin sẽ có thêm những loại hàng cao cấp để phục vụ nhiều đối tượng và sẽ dành kinh phí đáng kể để đào tạo, tổ chức thiết kế mẫu.
Với các mối quan hệ hiện nay của ngành dệt – may với bạn hàng ở các nước, hy vọng Fadin sẽ có điều kiện để thực hiện theo mong muốn của các nhà thiết kế Việt Nam và mở thêm lối cho ngành may xuất khẩu và ngành dệt. Đây là một bước tiến tiếp sau thời kỳ giới thiệu và bán sản phẩm lẻ. Công việc mới chỉ là bước đầu, tương lại còn ở phía trước…
Việt Nga -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Nhìn lại thị trường truyện tranh “quyết tâm giành lại chỗ đứng trên thị trường”

Tôi tin rằng, không một nhà xuất bản nào khi tung ra thị trường sách những truyện tranh có nội dung tràn ngập bạo lực như thế mà họ … yên tâm! Hơn ai hết, họ biết rằng đối tượng đọc loại sách này đầu tiên chính là con em của họ. Biết thế nhưng vẫn cứ làm! Giám đốc của một nhà xuất bản lớn đã phát biểu: “mục đích chúng tôi in loại này là lấy ngắn nuôi dài, để có tiền bù lỗ cho sách có tính giáo dục. Thiết nghĩ đây cũng là một cách giải quyết “linh hoạt” trong việc kinh doanh sách thiếu nhi có thể…chấp nhận được”. Điều đáng mừng là hiện nay một số nhà xuất bản đã có đầu tư nhiều tâm huyết trong lãnh vực này. Hai mặt của vấn đề là đây chăng?
Từ cuộc vận động sáng tác truyện tranh, truyện cho thiếu nhi (1993 – 1995), nhà xuất bản Kim Đồng đã mạnh dạn in nhiều bộ truyện tốt như: Trê Có (Ngô Mạnh Lân, Tô Hoài), u Cơ và Lạc Long Quân (Mai Long, Phạm Ngọc Tuấn), Bi, Bo và thần Kim Quy (Quang Toàn), quả bầu tiên (Bích Hồng)… Bên cạnh đó, nhà xuất bản trẻ có lịch sử Việt Nam bằng tranh do ông Trần Bạch Đằng chủ biên. Nhưng lý giải như thế nào đây: trong khi những bộ sách đầy bạo lực mỗi tuần phát hành vài chục ngàn bản thì các loại trên không quá 5.000 bản!
Hiện nay, phải nhìn thấy một thực trạng rằng, các họa sĩ Việt Nam dù đã có ý thức chiếm lại thị trường truyện tranh Việt Nam, nhưng vẫn chưa thành công. Cuộc vận động của nhà xuất bản Kim Đồng ròng rã hai năm chỉ thu được 50 tác phẩm. Báo Khăn Quàng Đỏ dù rất muốn có truyện tranh tốt cho thiếu nhi, nhưng cuộc vận động của họ đến nay vẫn chưa đem lại nhiều tác phẩm tốt. Chính vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy thị trường truyện tranh hiện nay phải lấy truyện của Nhật Bản và Trung Quốc “lấp vào chỗ trống”.
Trong tình hình này, chúng tôi rất vui mừng khi biết rằng, họa sĩ Quang Toàn đang quyết tâm xây dựng bộ truyện nhiều tập với nhân vật Bi, Bo và thần Kim Quy. Anh nói: “sau khi Ddorrremon được sự đón nhận nồng nhiệt của bạn đọc Việt Nam, tối đã thấy mình bị…kích thích. Tại sao không có nhân vật Việt Nam cho trẻ em Việt nam?”. Gần đây, có mật lệnh mũi tên xanh do họa sĩ Đức Lâm và nhà văn hóa Võ Hoàng Minh cùng cộng tác – nhà xuất bản Kim Đồng đã nâng số lượng phát hành đến mức kỷ lục; 45.000 bản/tập. Và còn có thể kể đến nỗ lực của nhà xuất bản Đồng Nai với bộ truyện tranh nhiều tập cô tiên xanh mà nhân vật được vẽ khá đẹp. Để hấp dẫn bạn đọc nhỏ tuổi, nhà xuất bản này đã “kèm” những câu hỏi dự thi nhằm giúp các em “thu hoạch”nội dung đã đọc. Đến nay Cô tiên xanh đã ra hơn 20 tập, nhưng số lượng còn khiêm tốn….5000 bản/kỳ.
Nhìn chung, điều gì khiến cho trẻ em chưa yêu thích truyện tranh của các họa sĩ Việt Nam? Theo tôi, sự dí dỏm trong truyện còn quá nghèo nàn. Nếu đọc Tin Tin, lucky luke hoặc ngay cả Đoremon thì chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống gây cười. Những tình huống đó giúp cho bạn đọc nhí bám theo hết câu chuyện và cũng là giây phút thư giãn cho bạn đọc lớn tuổi. Yếu tố đó không thể thiếu trong truyện tranh thiếu nhi. Một ý kiến nữa, kịch tính trong truyện tranh Việt Nam vẫn còn yếu, lời còn nhiều hơn tranh, hoặc tranh chỉ dừng lại ở mức độ minh họa chú chưa tìm tìm được ngôn ngữ đúng của thể loại nghệ thuật này.
Ngoài ra, điều đáng tiếc nhất, là do chạy theo nhu cầu kinh doanh nên một số họa sĩ Việt Nam có tên tuổi đã núp dưới một tên khác để vẽ khá nhiều truyện vô thưởng vô phạt. Hầu hết loại truyện tranh này đều minh họa truyện cổ tích Việt Nam, in ấn lem nhem, sai nhiều lỗi chính tả mà không ít nhà xuất bản địa phương đã xuất bản hàng loạt. Thậm chí họ còn “nhái” lại truyện đã ăn khách như trường hợp nhà xuất bản Mỹ Thuật đã cho ra chú vịt Aisaka nhái theo chuyện chú mèo máy Đoremon nổi tiếng. Đâu là trách nhiệm của người sáng tạo?
Hiện nay, mong muốn giành lại vị trí của truyện tranh Việt Nam trên thị trường đang là tâm huyết của nhiều họa sĩ có trách nhiệm. Thế nhưng, lực bất tòng tâm. Tháng 5/1995 vừa qua trong khi cả thế giới kỷ niệm 100 năm truyện tranh ra đời thì Việt Nam chúng ta vẫn chưa có được một bộ truyện tranh nào có tầm vóc đối với một thế hệ đừng nói đối với nhiều thế hệ trẻ thơ! Nhân dịp 1/6 năm nay, nhà xuất bản Kim Đồng lại mở cuộc vận động sáng tác truyện tranh, truyện cho thiếu nhi trong vòng hai năm (1996 – 1997), chúng ta vẫn còn cơ hội để chờ đợi thành công đích thực của thể loại nghệ thuật này.
Nếu có dịp dạo một vòng quanh các ngõ dẫn vào nội thành vào lúc sáng sớm. mọi người sẽ chứng kiến hàng đoàn thợ xây dựng. lao động phổ thông… từ các huyện lân cận kéo vào “bán sức” ở nội thành. Không còn ruộng đất, học vấn thấp, cuộc sống của người lao động nông thôn chẳng khác gì cây mạ đã nhổ lên mà không có ruộng để cấy sang! Tình trạng này chẳng còn là điều suy diễn nữa. Vì vậy, nên chăng nhà nước cần có chủ trương hạn chế việc bán đất theo định mức diện tích, đồng thời có định hướng, có kế hoạch cụ thể giúp những người nông dân bán đất và con em họ chuyển đổi ngành nghề.
Huyền Sương -Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Phỏng vấn bộ trưởng công nghiệp Đặng Vũ Chư “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên cơ sở nào”?

Nhân bộ trưởng Đặng Vũ Chư vào thành phố Hồ Chí Minh làm việc với hội nghị các nhà đầu tư nước ngoài, phóng viên báo Phụ Nữ đã phỏng vấn bộ trưởng về định hướng công nghiệp hóa ở nước ta.
Phóng viên: thưa bộ trưởng, đường lối của đại hội 8 là “công nghiệp hóa – hiện đại hóa” có khác gì so với đường lối của đại hội 4: “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”?
Bộ trưởng Đặng Vũ Chư: đường lối “hiện đại hóa – công nghiệp hóa” hiện nay là làm rõ hơn và sâu sắc hơn đường lối của đại hội 4. “Hiện đại hóa – công nghiệp hóa” là cuộc cách mạng có tính chất toàn diện, không chỉ tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, mà hiện đại hóa cả các lĩnh vực khác như nông nghiệp, y tế, phúc lợi xã hội và nhất là giáo dục.
Thực hiện đường lối đại hội 4, chúng ta có chỗ dựa – được Liên Xô trang bị toàn bộ một nền sản xuất khép kín, từ công nghiệp chế tạo máy, thép, năng lượng đến công nghiệp tiêu dùng. Giờ đây, chúng ta sẽ dựa vào đâu?
Các công nghệ của Liên Xô trang bị cho chúng ta đã lạc hậu. Giờ đây, ta phải dựa vào liên doanh. Vừa qua, một công ty công nghiệp hiện đại – liên doanh với Hàn Quốc – đã ra đời, có nhiệm vụ lãnh thầu các công trình công nghiệp lớn như thủy điện, nhiệt điện, xi măng…và sản xuất các thiết bị tại Việt Nam để cung cấp cho các công trình đó. Bấy lâu nay, toàn bộ thiết bị máy móc phục vụ cho các công trình lớn đều phải nhập từ nước ngoài.
Thế nhưng, thưa bộ trưởng, vừa qua nhiều liên doanh chỉ hoạt động gia công như ở các ngành dệt, may, điện tử… Ngay cả 12 liên doanh về ô tô, mỗi liên doanh cũng chỉ có 3 ha – 10 ha đất và vài trăm công nhân…?
Ngành may của chúng ta còn ở hình thức gia công là chủ yếu, nghĩa là rất khó phát triển, với tiền gia công rẻ mạt. Chính phủ hiện đang tập trung quota may mặc cho một số doanh nghiệp, xuất khẩu, có khả năng phát triển, để làm hạt nhân phát triển. Bộ cũng đặt chỉ tiêu đến năm 2000, ngành dệt may phải giải quyết nguyên phụ liệu trong nước đạt 60% – 70% trong cơ cấu sản phẩm (hiện mức này chỉ đạt 25%). Việc liên doanh ở các ngành công nghiệp như điện tử, ô tô (lắp ráp), thép (cán phôi)… hiện cũng có tình hình tương tự, nghĩa là tỷ lệ thiết bị linh kiện sản xuất tại chỗ rất ít.
Nói rộng ra, định hướng công nghiệp hoá của ra sẽ phat triển theo kiểu của Đài Loan (công nghiệp vừa và nhỏ) hay kiểu của Hàn Quốc (tập đoàn công nghiệp lớn)?
Ta đi theo hướng của cả hai nước này. Nghĩa là, một mặt phát triển công nghiệp vừa và nhỏ để đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng tiêu dùng trong nước; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, còn gọi là công nghiệp cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, như năng lượng, thép, hóa chất – phân bón, hóa dầu, cơ khí – động lực, điện tử – tin học… Chúng tôi rút kinh nghiệm một số nước công nghiệp mới ở quanh ta. Như, Hàn Quốc cách đây 30 – 35 năm, trình độ công nghiệp của họ cũng như ta, nhưng đã vươn lên nhờ biết tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ lực (thép, cơ khí nặng…). Và điều quan trọng hơn là nước này đã có được một chiến lược đào tạo con người, từ phổ thông đến cao đẳng, đại học, nhờ thế họ có một đội ngũ trí thức hùng hậu, đáp ứng đủ cho công nghiệp hóa.
Cơ khí giữ vai trò then chốt trong công nghiệp hóa, nhưng trình độ cơ khí Việt Nam đang quá lạc hậu và phân tán. Định hướng phát triển ngành cơ khí sẽ như thế nào?
Vâng, so với thế giới, ngành cơ khí Việt Nam đang ở trình độ thấp. Do vậy, định hướng của bộ là đến đầu thế kỷ 21, ngành cơ khí phải làm thế nào chế tạo được máy móc thiết bị cung cấp cho các ngành công nghiệp khác…
Trước mắt, những gì ngành cơ khí Việt Nam chế tạo được thì không cần phải nhập khẩu (thí dụ, nhà máy đường, nhà máy xi măng có công suất nhỏ, ta sản xuất tốt, thì tại sao phải nhập thiết bị?). Còn những thiết bị nào ta chế tạo chưa được thì mới hợp tác với nước ngoài. Hiện tại, bộ đang tập trung phát triển cơ khí chế tạo quy mô đơn giản và nhỏ đến quy mô lớn và hiện đại. Bộ cũng đang sắp xếp lại ngành cơ khí theo hướng tập trung và kiến nghị với chính phủ có chính sách để phát triển ngành cơ khí. Song song đó, để rút ngắn khoảng cách với các nước về mặt công nghệ, chúng tôi khuyến khích ngành cơ khí đi thẳng vào hiện đại hóa ở các khâu sản xuất có tính quyết định về chất lượng và năng suất. Đồng thời ưu tiên phát triển ngành công nghiệp nào nâng cao được hiệu quả tiết kiệm tài nguyên. Đây là kinh nghiệm xương máu của các nước đi trước. Qua một số liên doanh ứng dụng các công nghệ cao cấp, có một điều đáng mừng là con người Việt Nam đủ sức tiếp thu các công nghệ hiện đại. Đó là niềm hy vọng lớn lao cho ngành công nghiệp Việt Nam.
Xin cảm ơn bộ trưởng.
Mai Bá Kiếm – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998

Nước hoa “hỗn độn một thị trường”

Trong vài năm trở lại đây, khi kinh tế phát triển, thu nhập của người dân khá hơn, nhiều phụ nữ thành thị đã xem việc mua sắm một lọ nước hoa là cần thiết. Thị trường nước hoa đang càng ngày càng mở rộng đối với nhiều hãng nước ngoài và cho cả các doanh nghiệp trong nước. Thế nhưng…
Nước hoa ngoại: dễ lạc giữa… rừng hương!
Các loại nước hoa ngoại đang bán tràn ngập trong các chợ, các trung tâm thương mại, siêu thị, các shop thời trang – mỹ phẩm… ở thành phố Hồ Chí Minh đều không vào Việt Nam bằng đường chính thức. Ngay trong các siêu thị hoặc shop thời trang mỹ phẩm, nước hoa ngoại được bày bán cũng chỉ là hàng xách tay (do việt kiều hoặc các tiếp viên hàng không mang về), hàng quà biếu (phi mậu dịch), hàng tàu… Thế nên, đừng ngạc nhiên về sự chênh lệch giá cả của chúng, bởi ai mua giá nào thì bán giá đó. Chưa kể, nếu là nước hoa giả (từ Đài Loan, HongKong hoặc… Việt Nam), giá bán còn tuỳ tiện hơn nữa. Thông thường, giá một chai nước hoa trong siêu thị, shop thời trang – mỹ phẩm bao giả cũng cao hơn giá bán một chai tương tự trong một quầy hàng tại chợ, với một lời biện minh đầy thuyết phục: “hàng đảm bảo chất lượng”. Thực sự, lý do chính vẫn là chi phí cao ở những nơi này. Chẳng hạn như eternity (hiệu Calvin, Klein – Mỹ) tuỳ nơi bán, giá xê xích từ 440.000đ – 580.000đ/chai (eau de toilette, loại 100ml); trésor (hiệu lancôme – Pháp) giá 400.000đ đến 450.000đ/chai (parfum, loại 50ml).
Hầu hết những nhãn hiệu nước hoa nổi tiếng (Pháp – Mỹ) đều có mặt tại thị trường thành phố. Theo nhiều người bán, loại đang bán chạy là eternity (ck – Mỹ), trésor (lancôme – Pháp), giò (g.armani – Mỹ) với hai khuynh hướng: nồng gắt hoặc ngọt dịu. Chanel số 5 (Pháp) tuy nổi tiếng nhưng ít người dùng vì mùi hương chỉ thích hợp với người đứng tuổi. Thị trường cũng đang báo động về nước hoa Trésor giả (loại 100ml, xuất xứ Đài Loan) với giá sỉ chỉ có 240.000đ/chai nhưng có thể bán được giá 620.000đ/chai, bằng giá nước hoa chính gốc Paris!
Điều đnág nói khác là những loại bán được nhiều nhất hiện nay (đáp ứng cho số đông người tiêu dùng) đều không có tên tuổi, xuất xứ từ Ấn Độ, Thái Lan hoặc Pháp, Mỹ,… Ngôn ngữ của người bán gọi đây là hàng tiểu thủ công nghiệp, có giá dưới 10USD/chai 100ml! Bao bì khá đẹp, xuất xứ ngoại…đã hấp dẫn người tiêu dùng bình dân, kể cả giới trung lưu, nếu họ chưa có những đánh giá đúng về nước hoa sản xuất trong nước.
Nước hoa nội: thiếu chính sách tiếp thị!
Cấp thấp nhất là những loại nước hoa hàng chợ, không có tên, do người bán hàng tự pha chế, với giá bèo: 2.000đ – 15.000đ/100ml, dùng để tẩm khăn ăn, hớt tóc bình dân hay pha nước tắm em bé… Khá hơn là các loại nước hoá chai của các cơ sở tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp nhà nước, với giá bán cao nhất trên 30.000đ/chai 100ml. Đặc điểm của nước hoa nội là mùi hương nhái trésor, salomé, tabu, dune, boss, drakkar… Bao bì (chai thuỷ tinh và hộp giấy) ngày càng đổi mới: đa dạng và đẹp hơn, nhưng chất lượng được thị trường chấp nhận còn rất ít.
Muốn tìm đầy đủ các loại nước hoa nội, chỉ có thể đến chợ Kim Biên. Khách hàng lớn nhất của chợ này là các tỉnh miền Tây. Nhiều người bán xác nhận: loại nước hoa nội bán chạy nhất qua nhiều năm vẫn là sài gòn đỏ và trắng của mỹ phẩm sài gòn. Nhưng những nhãn hiệu cao cấp nhất của công ty này như cindy, miss saigon, jackson (dành cho nam)… đang được người thành phố ưa chuộng thì lại tìm thấy tại đây. “Họ chưa quen với các loại sản phẩm mới của chúng tôi” – anh Phạm Xuân Long, cán bộ phòng kinh doanh của công ty mỹ phẩm sài gòn thừa nhận.
Nước hoa là mặt hàng chủ lực của mỹ phẩm sài gòn, với tỷ lệ xuất khẩu hàng năm chiếm đến 40%! Thị trường xuất khẩu của công ty không dừng ở Đông u mà đã sang đến Philipin, Singapore, Úc, Đài Loan… Năm 95, sản lượng và doanh số về nước hoa của mỹ phẩm sài gòn tăng trên 140% so với năm 94. Nguyên liệu chính là essence được nhập từ châu u, dây chuyền công nghệ tiên tiến… Thế thì còn có điều gì khiến nước hoa của mỹ phẩm sài gòn chưa chiếm lĩnh được thị trường thành phố? Anh Phạm Xuân Long cho rằng: “về chất lượng, sản phẩm của công ty không thua gì sản phẩm ngoại, nhưng về bao bì còn bị giới hạn. Chưa kể người Việt Nam còn chưa có thói quen sử dụng nước hoa!”. Quả thực, với bao bì đơn điệu, giống nhau cho cả ba loại nước hoa khác nhau là cindy đen, miss saigon, jackson (loại 100ml), thật khó hấp dẫn người tiêu dùng. Chưa kể, cho đến nay, mỹ phẩm sài gòn chưa xác định được đối thủ cạnh tranh mặt hàng nước hoa là nhãn hiệu gì, của nước nào, cũng như không tự đánh giá được sản phẩm của mình là ngang bằng với loại nước hoa ngoại nào. Việc xác định thị phần nước hoa của công ty tại thị trường thành phố cũng không rõ. Và tính phổ biến của sản phẩm – thông qua hoạt động quảng cáo và tiếp thị đến nhiều nơi – rất hạn chế.
Ở công ty mỹ phẩm Như Ngọc (quận 10), bà Mai Thị Năm – phó giám đốc công ty – cũng cho biết: “chúng tôi làm thêm nước hoa để đa dạng hoá mặt hàng, chứ doanh số không đáng kể!”.
Có thể nói, chất lượng nước hoa nội hiện nay chưa thuyết phục những người đã quen dùng nước hoa mang nhãn hiệu nổi tiếng. Cho nên, “khả thi” hơn cả là phải nhắm đến số đông những người phụ nữ bình dân, giới học sinh sinh viên đang sử dụng những loại nước hoa ngoại không tên tuổi. Và trước hết, hãy làm cho nhiều người hiểu được sản phẩm của mình ra sao, đồng thời phải đầu tư nghiêm túc vào chất lượng. Nếu không thì chắc chắn nước hoa nội sẽ mất dần chỗ đứng trên chính thị trường rộng lớn của mình.
Thanh Thủy – Thế giới phụ nữ- Phụ nữ Việt Nam- Năm1998